- nhu cầu giao tiếp với người lớn nếu thiếu trẻ không tồn tại & phát triển được (giao tiếp ban đầu bế bồng, ôm hôn, âu yếm..) phát triển về thể chất đây là "giai đoạn miệng": bé học được về bản thân mình và thế giới xung quanh qua cách đút mọi thứ bé có được vào miệng vận động sự phát triển tâm lý của trẻ ở giai đoạn này thể hiện tính tích …
Chúng không chỉ bảo vệ cho những em yêu thích ứng với cuộc sống thường ngày nhà ngôi trường và chuyển động học, nhưng mà còn sẵn sàng cho những em những cách ngoặt đặc trưng trong cuộc sống ở tuổi thiếu thốn niên, lứa tuổi bao gồm xu cầm vươn lên làm người lớn. Tâm lý lứa tuổi trung học tập cơ sở Đặc điểm hoạt động học tập trong nhà trường THCS
・Hơn 7 năm nghiên cứu và phát triển các dự án giáo dục cho độ tuổi thanh thiếu niên. ・Truyền cảm hứng và trực tiếp đào tạo cho hơn 5000 thanh thiếu niên về kĩ năng và thái độ sống. ・Tham vấn tâm lí và coaching trực tiếp hơn 1000 thanh thiếu niên và gia đình.
Khác với lứa tuổi thanh niên hay người trưởng thành, việc giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, văn hóa cho thiếu niên, nhi đồng có những yêu cầu riêng, gặp không ít khó khăn bởi ở lứa tuổi này tâm sinh lý của các em luôn có sự thay đổi; mặt khác, khả năng nhận
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vừa ký Quyết định ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Quyết định số 311/QĐ-TTg ngày 05/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình "Giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thanh niên, thiếu niên, nhi đồng trên không gian mạng giai đoạn 2022
GPdFx. Việc phân đoạn quá trình phát triển tâm lý người phác họa cho chúng ta thấy rõ những nét tâm lý đặc trưng cho từng lứa tuổi. Trong mỗi giai đoạn phát triển các nét tâm lý đặc trưng nảy sinh trên cơ sở kết hợp các điều kiện khách quan và chủ số các điều kiện khách quan, vị thế xã hội của chủ thể có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Những thay đổi vì thế xã hội sẽ làm nảy sinh nhu cầu phát triển mới. Trình độ phát triển của các chức năng tâm lý trong giai đoạn trước cũng như trong giai đoạn hiện thời sẽ là điều kiện chủ quan đảm bảo cho những nhu cầu phát triển mới nảy sinh trở thành hiện thực. Như vậy quá trình phát triển tâm lý con người là một quá trình liên tục. Nói cách khác mỗi giai đoạn phát triển vừa mang tính kế thừa vừa mang tính phát triển. Điều đó cũng có nghĩa là việc phân đoạn quá trình phát triển tâm lý người chỉ có ý nghĩa tương đối. Không có gì đáng ngạc nhiên khi cùng một độ tuổi, ví dụ độ tuổi 14 - 15 có người gọi là giai đoạn đầu của lứa tuổi thanh niên, có tác giả lại cho đó là giai đoạn cuối của lứa tuổi thiếu nay tồn tại nhiều cách phân đoạn quá trình phát triển của con người tùy thuộc vào góc độ nghiên cứu. Có thể xuất phát từ đặc điểm phát triển sinh lý, cũng có thể đi từ góc độ xã hội học dựa vào sự thay đổi các dạng hoạt động xã hội... Nếu so sánh ngôn ngữ thông thường và ngôn ngữ khoa học thì nội dung các khái niệm thể hiện giai đoạn phát triển lại càng khác xa nhau. Riêng trong tâm lý học nếu loại trừ sự khác biệt trong quan điểm phân đoạn do tính liên tục của các quá trình phát triển. tạo ra, nhìn chung có thể chấp nhận xác định lứa tuổi thanh niên là giai đoạn lừ 14 - 18 tuổi. Việc xác các định lứa tuổi thanh niên như vậy tương đối tương đồng với việc phân đoạn từ góc độ sinh lý học hay xã hội học. Tuy nhiên, các ngưỡng tuổi trên và ngưỡng tuổi dưới có thể dịch chuyển chút ít độ 1,2 tuổi tùy thuộc vào đặc điểm phát triển lịch sử - xã hội, đặc điểm giới và cả đặc điểm phát triển cá Hình thành biểu tượng "cái tôi” có tính hệ thốngVị thế xã hội của lứa tuổi thanh niên có nhiều thay đổi so với lứa tuổi trước đó. Một mặt các quan hệ xã hội của thanh niên được mở rộng. Trong các quan hệ đó người lớn, kể cả thầy cô giáo và bố mẹ đều nhìn nhận thanh niên như những người "chuẩn bị thành người lớn và đòi hỏi họ phải có các cách ứng xử phù hợp với vị thế của mình. Mặt khác, khác với học sinh lớp dưới, học sinh cuối cấp II và học sinh cấp III đứng trước một thách thức khách quan của cuộc sống phải chuẩn bị lựa chọn cho mình một hướng đi sau khi tốt nghiệp phổ thông, phải xây dựng cho mình một cuộc sống độc lập trong xã hội… Những thay đổi trong vị thế xã hội, sự thách thức khách quan của cuộc sống dẫn đến làm xuất hiện ở lứa tuổi thanh niên những nhu cầu về hiểu biết thế giới hiểu biết xã hội và các chuẩn mực quan hệ người - người, hiểu mình và tự khẳng định mình trong xã hội...Bước sang tuổi thanh niên, các chức năng tâm lý của con người cũng có nhiều thay đổi, đặc biệt là trong lĩnh vực phát triển trí tuệ, khả năng tư duy. Các nghiên cứu tâm lý học cho thấy rằng hoạt động tư duy của thanh niên rất tích cực và có tính độc lập tư duy lý luận phát triển mạnh. Thanh niên có khả năng và rất ưa thích khái quát các vấn đề. Sự phát triển mạnh của tư duy lý luận liên quan chặt chẽ với khả năng sáng tạo. Nhờ khả năng khái quát thanh niên có thể tự mình phát hiện ra những cái mới. Với họ điều quan trọng là cách thức giải quyết các vấn đề được đặt ra chứ khống phải là loại vấn đề nào được giải quyết. Học sinh cấp III đánh giá các bạn thông minh trong lớp không dựa vào điểm số mà dựa vào cách thức giải bài tập. Họ có xu hướng đánh giá cao các bạn thông minh và những thầy cô có phương pháp giảng dạy tích cực, tôn trọng những suy nghĩ độc lập của học sinh, phê phán sự gò ép, máy móc trong phương pháp sư cơ sở các điều kiện khách chủ quan nêu trên tự ý thức phát cứu khả năng đánh giá con người của thanh niên nhiều nhà tâm lý học nhận thấy rằng khi đánh giá con người nếu như thiếu niên thường nêu lên những đặc điểm mang tính nhất thời liên quan đến những hoàn cảnh cụ thể trong các mối quan hệ với bố mẹ hoặc thầy cô giáo, thì thanh niên chú ý nhiều hơn đến những phẩm chất nhân cách có tính bền vững như các đặc điểm trí tuệ, năng lực, tình cảm, ý chí, thái độ đối với lao động, quan hệ với những người khác trong xã hội… Từ chỗ nhìn nhận được những phẩm chất mang tính khái quát của người khác dần dần con người tự phát hiện ra thế giới nội tâm của bản thân mình. Các em ở lứa tuổi thiếu niên cảm nhận được các rung động của bản thân và hiểu rằng đó là trạng thái "cái tôi" của mình. Song nhờ tư duy khái quát phát triển trên cơ sở tiếp thu các tri thức chung mang tính phương pháp luận thanh niên ý thức được các mối quan hệ giữa các thuộc tính tâm lý và các phẩm chất nhân cách, có khả năng tạo được một hình ảnh “cái tôi" trọn vẹn và đầy đủ hơn để từ đó xây dựng các mối quan hệ với người khác và với chính tượng về "cái tôi" trong giai đoạn đầu của lứa tuổi thanh niên thường chưa thật rõ nét. Do đó tự đánh giá về bản thân không ổn định và có tính mâu thuẫn. Tôi trong biểu tượng của tôi rất tuyệt vời song thanh niên cũng dễ rơi vào trạng thái nghi ngờ điều đó. Nhu cầu giao tiếp, đặc biệt là giao tiếp với bạn bè đồng lứa phát triển mạnh ở lứa tuổi này đã thực hiện một chức năng quan trọng là giúp thanh niên dần hiểu mình rõ hơn, đánh giá bản thân chính xác hơn thông qua những cuộc trao đổi thông tin, trao đổi các đánh giá về các hiện tượng mà họ quan thường biểu tượng về cái tôi được hình thành theo hướng các thuộc tính tâm lý của con người như một cá thể được nhận biết sớm hơn các thuộc tính nhân cách. ở giai đoạn đầu thanh niên rất nhạy cảm với những đặc điểm của hình thức thân thể. Họ so sánh mình với người khác qua các đặc điểm bên ngoài. Một hiện tượng rất thường gặp là học sinh cấp III bắt chước thầy cô giáo mà họ yêu quý hay một người mẫu lý tưởng nào đó mà họ chọn cho mình, từ cách ăn mặc, cử chỉ, dáng đi. Trong giai đoạn phát triển tiếp theo các đặc điểm nhân cách như ý chí, tình cảm, trí tuệ, năng lực, mục đích sống... ngày càng có ý nghĩa, tạo nên một hình ảnh "cái tôi” có chiều sâu, có hệ thống, chính xác và sống động thức về cái tôi rõ ràng và đầy đủ hơn đã làm cho thanh niên có khả năng lựa chọn ,con đường tiếp theo, đặt ra vấn đề tự khẳng định và tìm kiếm vị trí cho riêng mình trong cuộc sống Nảy sinh cảm nhận về "tính chất người lớn" của bản nhận về "tính người lớn" của chính 'bản thân mình là một trong những nét tâm lý đặc trưng xuất hiện trong giai đoạn chuyển từ lứa tuổi thiếu niên sang tuổi thanh niên. Thực tiễn cho thấy rằng sự nảy sinh cảm nhận đó ở lứa tuổi thanh niên là một trong những yếu tố tâm lý góp phần tạo nên những mối quan hệ bất bình ổn giữa cha mẹ và con cái, làm cho tần số giao tiếp giữa cha mẹ và con cái giảm xuống và thay vào đó là nhu cầu giao tiếp của thanh niên với bạn đồng lứa tăng sang tuổi thanh niên các em có cảm nhận rõ rệt rằng mình đã lớn hay mình cũng gần giống người lớn, sắp trở thành người lớn. Ranh giới giữa tuổi thanh niên và tuổi người lớn trong con mắt của thanh niên không phải bao giờ cũng hiện lên một cách rõ ràng. Trong quan hệ với trẻ nhỏ tuổi hơn hay trong quan hệ với các bạn đồng lứa thanh niên có xu hướng cố gắng thể hiện mình như những người đã lớn. Họ hướng tới các giá trị của người lớn, so sánh mình với người lớn, mong muốn được tự lập, tự chủ trong giải quyết các vấn đề của riêng họ. Tuy nhiên thực tiễn cuộc sống đã đưa thanh niên vào một hoàn cảnh đầy mâu thuẫn. So sánh mình với người lớn, học sinh cấp III hiểu rằng mình vẫn còn nhỏ, còn phụ thuộc. Nếu như lứa tuổi trước đó sẵn sàng chấp nhận quan hệ người lớn - trẻ con, thì đối với thanh niên tính chất như vậy trong quan hệ giữa họ với người lớn được họ coi như là không bình thường. Thanh niên cố gắng khắc phục kiểu quan hệ đó. Xuất hiện một mâu thuẫn giữa ý muốn chủ quan và hiện thực khách quan muốn trở thành người lớn song thanh niên ý thức được rằng mình chưa đủ khả năng. Mâu thuẫn này đã tạo ra những thay đổi lớn trong lĩnh vực tình cảm của lứa tuổi thanh niên. Những nghiên cứu về tính cách thanh niên bằng các trắc nghiệm TAT và Rorschach cho thấy rằng tính hay lo lắng đã tăng từ độ tuổi 12 đến độ tuổi 16. So với các lứa tuổi trước đó mức độ lo lắng trong giao tiếp với mọi người với bạn bè, thầy cô giáo, người lớn… ở lứa tuổi thanh niên cao hơn hẳn và đặc biệt cao trong giao tiếp với bố mẹ hay với những người lớn mà thanh niên cảm thấy bị phụ thuộc. Theo thói quen thông thường trong quan hệ với con cái đã bước vào tuổi thanh niên, các bậc cha mẹ vẫn thường xem họ như những đứa trẻ mà ít chú ý đến nhu cầu nội tâm của họ. Kiểu quan hệ mang tính sai khiến, áp đặt cứng nhắc hoặc những biểu hiện tình cảm mẹ - con thái quá đối với lứa tuổi này thường gây ra những hậu quả không mong đợi. - một chuyên gia tâm thán học nổi tiếng của Liên bang Nga về lứa tuổi thanh niên nhận định rằng từ 14 đến 18 là lứa tuổi khủng hoảng đối với tâm thần học. Ở lứa tuổi này các biểu hiện rối loạn nhân cách tăng lên rõ rệt và trong phần lớn các trường hợp, chúng có nguồn gốc sâu xa trong các quan hệ cha mẹ - con cái, quan hệ thầy - trò không thuận cơ sở phát triển sinh lý, mức độ chín muồi của quá trình phát triển các đặc điểm sinh lý giới, sự cảm nhận về tính chất người lớncủa bản thân mình ở thanh niên không phải là một cảm nhận chung chung mà liên quan chặt chẽ với việc gắn kết mìnhvào một giới nhất định. Từ nhận thức đó ở thanh niên nam nữ dần dần hình thành những nhu cầu, động cơ, định hướng giá trị, các quan hệ và các kiểu loại hành vi đặc trưng cho mỗi gia Hình thành thế giới quanNhữngthay đổi trong vị thế xã hội, trình độ phát triển của tư duy lý luận và hơn nữa một khối lượng trị thức lớn mang tính phương phápluận về các quy luật của tự nhiên, xã hội mà thanh niên tiếp thu được trong nhà trường đã giúp họ thấy được các mối liên hệ giữa các trí thức khác nhau, giữa các thành phần của thế giới. Nhờ đó thanh niên bắt đầu biết liên kết các tri thức riêng lẻ lại với nhau để tạo nên một biểu tượng chung về thế giới cho riêng mình. Đối với thanh niên biểu tượng chung về thế giới có một ý nghĩa nhân cách rất rộng , nó gắn liền với nhu cầu tìm kiếm một chỗ đứng cho riêng mình trong xã hội, tìm kiếm một hướng đi, một nghề nghiệp, một dự định cho cuộc sống của họ. Như vậy thế giới quan tức quan điểm về thế giới nói chung, về cơ sở của sự tồn tại về mối liên hệ giữa con người với tự nhiên, về những định hướng giá trị cơ bản... được hình chuẩn bị bước vào đời, thanh niên thường trăn trở với các câu hỏi về ý nghĩa và mục đích cuộc sống, về cách xây dựng một kế hoạch sống có hiệu quả, về việc lựa chọn nghề nghiệp cho phù hợp và có ý nghĩa... Để giải đáp các câu hỏi này, khả năng nhận thức, đánh giá cũng như khả năng thực tiễn của mỗi cá nhân rất khác nhau, thể hiện đặc biệt rõ khoảng cách giữa sự phát triển tự phát và sự. phát triển có hướng dẫn của giáo dục với nghĩa rộng của khái niệm này. ở nước ta hiện nay khi mà các giá trị xã hội có nhiều biến động, không ít thanh niên chưa xác định được ý nghĩa của cuộc sống, không có định hướng nghề nghiệp rõ nét và do đó cũng không thể lập được cho bản thân một kế hoạch sống cụ thề. Hiện tượng này tồn tại không phải đơn thuần do trình độ phát triển tâm lý ở lứa tuổi thành niên chưa chín muồi, mà quan trọng hơn là do những khiếm khuyết trong giáo dục ở nhà trường, gia đình và trong xã hội thông qua các ấn phẩm sách báo, văn hóa, nghệ thuật.... Sự hướng dẫn, giảng giải, giúp đỡ bằng các biện pháp cụ thể, phù hợp của các thế hệ đi trước sự giúp thanh niên đạt đến "miền phát triển gần" mà Vưgốtxki đã phát hiện trong các khía cạnh quan trọng của quá trình hình thành thế giới quan ở lứa tuổi thanh niên là trình độ phát triển ý thức đạo đức. Các nghiến cứu tâm lý học cho thấy rằng thế giới quan về lĩnh vực đạo đức bắt đầu hình thành ở con người' từ tuổi thiếu niên. Các em thiếu niên biết đánh giá phân loại hành vi của bản thân và của người khác theo các phạm trù đạo đức khác nhau, có khả năng đưa ra những chính kiến tương đối khái quát của riêng mình về các vấn đề đạo đức... Song sang tuổi thanh niên ý thức đạo đức đã phát triển lên một bậc cao hơn cả về mặt nhận thức tình cảm và hành vi. Về mặt nhận thức thanh thiên không chỉ có khả nặng giải thích một cách rõ ràng các khái niệm đạo đức, quy chúng vào một hệ thống nhất định thể hiện một trình độ khát quát cao hơn mà ở họ còn xuất hiện một cách có ý thức nhu cầu xây dựng các chính kiến đạo đức của riêng mình về các vấn đề mà cuộc sống đặt ra. Ở khía cạnh tình cảm các chuẩn mực đạo đức đã có được những ý nghĩa riêng tư đối với thanh niên, nhờ đó các hành vi tương ứng với các chuẩn mực đạo đức nhất định có thể khơi dậy ở họ những xúc cảm đặc biệt. Nói cách khác ở lứa tuổi thanh niên niềm tin, đạo đức đã bắt đầu hình thành. Sự hình thành niềm tin đạo đức biến thanh niên từ chỗ là người chấp nhận, phục tùng các chuẩn mực đạo đức trở thành chủ thể tích cực của chúng. Điều này thể hiện đặc biệt rõ trong việc tìm kiếm hình mẫu lý tưởng. Học sinh nhỏ tuổi tiếp nhận hình mẫu lý tưởng xuất phát từ tình cảm khâm phục một con người cụ thể và khi đó hình mẫu lý tưởng sẽ chi phối hành vi đạo đức của các em. Như vậy ở một mức độ nhất định có thể coi hình mẫu lý tưởng là nguồn gốc hình thành ý thức đạo đức của học sinh nhỏ tuổi. Tình hình khác hẳn đối với học sinh cấp III. Các em học sinh cấp III tìm kiếm hình mẫu lý tưởng một cách có ý thức… Hình ảnh một con người cụ thể chỉ là phương tiện để các em gửi gắn những nguyên tắc, những biểu tượng đạo đức mà các em tiếp nhiên từ lâu các nhà tâm lý học đã nhận thấy mâu thuẫn bên trong ý thức đạo đức ở lứa tuổi thanh niên. Trong các đánh giá của mình thanh niên có thể rất cứng nhắc tuân theo các chuẩn mực đạo đức mà các em đã tiếp nhận song đồng thời lại cũng nghi ngờ về tính đúng đắn của chúng. Để lý giải điều này có thể cho rằng lứa tuổi thanh niên vẫn là lứa tuổi mà ý thức đạo đức đang ở trong giai đoạn đầu của quá trình hình thành. Mặt khác về phương diện trí tuệ thanh niên đã hiểu được tính tương đối của các chuẩn mực. Sự nghi ngờ lật lại các chuẩn mực đạo đức của xã hội có thể hiện như một thao tác tìm kiếm, nghiên cứu, học hỏi để tiếp thu.
Việc phân đoạn quá trình phát triển tâm lý người phác họa cho chúng ta thấy rõ những nét tâm lý đặc trưng cho từng lứa tuổi. Trong mỗi giai đoạn phát triển các nét tâm lý đặc trưng nảy sinh trên cơ sở kết hợp các điều kiện khách quan và chủ đang xem Tâm lý lứa tuổi thanh thiếu niênTrong số các điều kiện khách quan, vị thế xã hội của chủ thể có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Những thay đổi vì thế xã hội sẽ làm nảy sinh nhu cầu phát triển mới. Trình độ phát triển của các chức năng tâm lý trong giai đoạn trước cũng như trong giai đoạn hiện thời sẽ là điều kiện chủ quan đảm bảo cho những nhu cầu phát triển mới nảy sinh trở thành hiện thực. Như vậy quá trình phát triển tâm lý con người là một quá trình liên tục. Nói cách khác mỗi giai đoạn phát triển vừa mang tính kế thừa vừa mang tính phát triển. Điều đó cũng có nghĩa là việc phân đoạn quá trình phát triển tâm lý người chỉ có ý nghĩa tương đối. Không có gì đáng ngạc nhiên khi cùng một độ tuổi, ví dụ độ tuổi 14 – 15 có người gọi là giai đoạn đầu của lứa tuổi thanh niên, có tác giả lại cho đó là giai đoạn cuối của lứa tuổi thiếu nay tồn tại nhiều cách phân đoạn quá trình phát triển của con người tùy thuộc vào góc độ nghiên cứu. Có thể xuất phát từ đặc điểm phát triển sinh lý, cũng có thể đi từ góc độ xã hội học dựa vào sự thay đổi các dạng hoạt động xã hội… Nếu so sánh ngôn ngữ thông thường và ngôn ngữ khoa học thì nội dung các khái niệm thể hiện giai đoạn phát triển lại càng khác xa nhau. Riêng trong tâm lý học nếu loại trừ sự khác biệt trong quan điểm phân đoạn do tính liên tục của các quá trình phát triển. tạo ra, nhìn chung có thể chấp nhận xác định lứa tuổi thanh niên là giai đoạn lừ 14 – 18 tuổi. Việc xác các định lứa tuổi thanh niên như vậy tương đối tương đồng với việc phân đoạn từ góc độ sinh lý học hay xã hội học. Tuy nhiên, các ngưỡng tuổi trên và ngưỡng tuổi dưới có thể dịch chuyển chút ít độ 1,2 tuổi tùy thuộc vào đặc điểm phát triển lịch sử – xã hội, đặc điểm giới và cả đặc điểm phát triển cá Hình thành biểu tượng “cái tôi” có tính hệ thốngVị thế xã hội của lứa tuổi thanh niên có nhiều thay đổi so với lứa tuổi trước đó. Một mặt các quan hệ xã hội của thanh niên được mở rộng. Trong các quan hệ đó người lớn, kể cả thầy cô giáo và bố mẹ đều nhìn nhận thanh niên như những người “chuẩn bị thành người lớn và đòi hỏi họ phải có các cách ứng xử phù hợp với vị thế của mình. Mặt khác, khác với học sinh lớp dưới, học sinh cuối cấp II và học sinh cấp III đứng trước một thách thức khách quan của cuộc sống phải chuẩn bị lựa chọn cho mình một hướng đi sau khi tốt nghiệp phổ thông, phải xây dựng cho mình một cuộc sống độc lập trong xã hội… Những thay đổi trong vị thế xã hội, sự thách thức khách quan của cuộc sống dẫn đến làm xuất hiện ở lứa tuổi thanh niên những nhu cầu về hiểu biết thế giới hiểu biết xã hội và các chuẩn mực quan hệ người – người, hiểu mình và tự khẳng định mình trong xã hội…Bước sang tuổi thanh niên, các chức năng tâm lý của con người cũng có nhiều thay đổi, đặc biệt là trong lĩnh vực phát triển trí tuệ, khả năng tư duy. Các nghiên cứu tâm lý học cho thấy rằng hoạt động tư duy của thanh niên rất tích cực và có tính độc lập tư duy lý luận phát triển mạnh. Thanh niên có khả năng và rất ưa thích khái quát các vấn đề. Sự phát triển mạnh của tư duy lý luận liên quan chặt chẽ với khả năng sáng tạo. Nhờ khả năng khái quát thanh niên có thể tự mình phát hiện ra những cái mới. Với họ điều quan trọng là cách thức giải quyết các vấn đề được đặt ra chứ khống phải là loại vấn đề nào được giải quyết. Học sinh cấp III đánh giá các bạn thông minh trong lớp không dựa vào điểm số mà dựa vào cách thức giải bài tập. Họ có xu hướng đánh giá cao các bạn thông minh và những thầy cô có phương pháp giảng dạy tích cực, tôn trọng những suy nghĩ độc lập của học sinh, phê phán sự gò ép, máy móc trong phương pháp sư cơ sở các điều kiện khách chủ quan nêu trên tự ý thức phát cứu khả năng đánh giá con người của thanh niên nhiều nhà tâm lý học nhận thấy rằng khi đánh giá con người nếu như thiếu niên thường nêu lên những đặc điểm mang tính nhất thời liên quan đến những hoàn cảnh cụ thể trong các mối quan hệ với bố mẹ hoặc thầy cô giáo, thì thanh niên chú ý nhiều hơn đến những phẩm chất nhân cách có tính bền vững như các đặc điểm trí tuệ, năng lực, tình cảm, ý chí, thái độ đối với lao động, quan hệ với những người khác trong xã hội… Từ chỗ nhìn nhận được những phẩm chất mang tính khái quát của người khác dần dần con người tự phát hiện ra thế giới nội tâm của bản thân mình. Các em ở lứa tuổi thiếu niên cảm nhận được các rung động của bản thân và hiểu rằng đó là trạng thái “cái tôi” của mình. Song nhờ tư duy khái quát phát triển trên cơ sở tiếp thu các tri thức chung mang tính phương pháp luận thanh niên ý thức được các mối quan hệ giữa các thuộc tính tâm lý và các phẩm chất nhân cách, có khả năng tạo được một hình ảnh “cái tôi” trọn vẹn và đầy đủ hơn để từ đó xây dựng các mối quan hệ với người khác và với chính tượng về “cái tôi” trong giai đoạn đầu của lứa tuổi thanh niên thường chưa thật rõ nét. Do đó tự đánh giá về bản thân không ổn định và có tính mâu thuẫn. Tôi trong biểu tượng của tôi rất tuyệt vời song thanh niên cũng dễ rơi vào trạng thái nghi ngờ điều đó. Nhu cầu giao tiếp, đặc biệt là giao tiếp với bạn bè đồng lứa phát triển mạnh ở lứa tuổi này đã thực hiện một chức năng quan trọng là giúp thanh niên dần hiểu mình rõ hơn, đánh giá bản thân chính xác hơn thông qua những cuộc trao đổi thông tin, trao đổi các đánh giá về các hiện tượng mà họ quan thường biểu tượng về cái tôi được hình thành theo hướng các thuộc tính tâm lý của con người như một cá thể được nhận biết sớm hơn các thuộc tính nhân cách. ở giai đoạn đầu thanh niên rất nhạy cảm với những đặc điểm của hình thức thân thể. Họ so sánh mình với người khác qua các đặc điểm bên ngoài. Một hiện tượng rất thường gặp là học sinh cấp III bắt chước thầy cô giáo mà họ yêu quý hay một người mẫu lý tưởng nào đó mà họ chọn cho mình, từ cách ăn mặc, cử chỉ, dáng đi. Trong giai đoạn phát triển tiếp theo các đặc điểm nhân cách như ý chí, tình cảm, trí tuệ, năng lực, mục đích sống… ngày càng có ý nghĩa, tạo nên một hình ảnh “cái tôi” có chiều sâu, có hệ thống, chính xác và sống động thức về cái tôi rõ ràng và đầy đủ hơn đã làm cho thanh niên có khả năng lựa chọn ,con đường tiếp theo, đặt ra vấn đề tự khẳng định và tìm kiếm vị trí cho riêng mình trong cuộc sống Nảy sinh cảm nhận về “tính chất người lớn” của bản nhận về “tính người lớn” của chính bản thân mình là một trong những nét tâm lý đặc trưng xuất hiện trong giai đoạn chuyển từ lứa tuổi thiếu niên sang tuổi thanh niên. Thực tiễn cho thấy rằng sự nảy sinh cảm nhận đó ở lứa tuổi thanh niên là một trong những yếu tố tâm lý góp phần tạo nên những mối quan hệ bất bình ổn giữa cha mẹ và con cái, làm cho tần số giao tiếp giữa cha mẹ và con cái giảm xuống và thay vào đó là nhu cầu giao tiếp của thanh niên với bạn đồng lứa tăng sang tuổi thanh niên các em có cảm nhận rõ rệt rằng mình đã lớn hay mình cũng gần giống người lớn, sắp trở thành người lớn. Ranh giới giữa tuổi thanh niên và tuổi người lớn trong con mắt của thanh niên không phải bao giờ cũng hiện lên một cách rõ ràng. Trong quan hệ với trẻ nhỏ tuổi hơn hay trong quan hệ với các bạn đồng lứa thanh niên có xu hướng cố gắng thể hiện mình như những người đã lớn. Họ hướng tới các giá trị của người lớn, so sánh mình với người lớn, mong muốn được tự lập, tự chủ trong giải quyết các vấn đề của riêng họ. Tuy nhiên thực tiễn cuộc sống đã đưa thanh niên vào một hoàn cảnh đầy mâu thuẫn. So sánh mình với người lớn, học sinh cấp III hiểu rằng mình vẫn còn nhỏ, còn phụ thuộc. Nếu như lứa tuổi trước đó sẵn sàng chấp nhận quan hệ người lớn – trẻ con, thì đối với thanh niên tính chất như vậy trong quan hệ giữa họ với người lớn được họ coi như là không bình thường. Thanh niên cố gắng khắc phục kiểu quan hệ đó. Xuất hiện một mâu thuẫn giữa ý muốn chủ quan và hiện thực khách quan muốn trở thành người lớn song thanh niên ý thức được rằng mình chưa đủ khả năng. Mâu thuẫn này đã tạo ra những thay đổi lớn trong lĩnh vực tình cảm của lứa tuổi thanh niên. Những nghiên cứu về tính cách thanh niên bằng các trắc nghiệm TAT và Rorschach cho thấy rằng tính hay lo lắng đã tăng từ độ tuổi 12 đến độ tuổi 16. So với các lứa tuổi trước đó mức độ lo lắng trong giao tiếp với mọi người với bạn bè, thầy cô giáo, người lớn… ở lứa tuổi thanh niên cao hơn hẳn và đặc biệt cao trong giao tiếp với bố mẹ hay với những người lớn mà thanh niên cảm thấy bị phụ thuộc. Theo thói quen thông thường trong quan hệ với con cái đã bước vào tuổi thanh niên, các bậc cha mẹ vẫn thường xem họ như những đứa trẻ mà ít chú ý đến nhu cầu nội tâm của họ. Kiểu quan hệ mang tính sai khiến, áp đặt cứng nhắc hoặc những biểu hiện tình cảm mẹ – con thái quá đối với lứa tuổi này thường gây ra những hậu quả không mong đợi. – một chuyên gia tâm thán học nổi tiếng của Liên bang Nga về lứa tuổi thanh niên nhận định rằng từ 14 đến 18 là lứa tuổi khủng hoảng đối với tâm thần học. Ở lứa tuổi này các biểu hiện rối loạn nhân cách tăng lên rõ rệt và trong phần lớn các trường hợp, chúng có nguồn gốc sâu xa trong các quan hệ cha mẹ – con cái, quan hệ thầy – trò không thuận cơ sở phát triển sinh lý, mức độ chín muồi của quá trình phát triển các đặc điểm sinh lý giới, sự cảm nhận về tính chất người lớncủa bản thân mình ở thanh niên không phải là một cảm nhận chung chung mà liên quan chặt chẽ với việc gắn kết mìnhvào một giới nhất định. Từ nhận thức đó ở thanh niên nam nữ dần dần hình thành những nhu cầu, động cơ, định hướng giá trị, các quan hệ và các kiểu loại hành vi đặc trưng cho mỗi gia mắc thanh thiếu niên là bao nhiêu tuổi? Hay độ tuổi thanh thiếu niên trong khoảng nào? Đây là những câu hỏi được nhiều người quan tâm nhưng không phải ai cũng nắm rõ về giới hạn độ tuổi hợp pháp. Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn giải đáp các khái niệm mà bạn đang thắc vị thành niên còn được gọi là thiếu niên hay thanh thiếu niên là giai đoạn chuyển đổi về thể chất và tinh thần trong quá trình phát triển của con người xảy ra giữa thời thơ ấu và tuổi trưởng thành. Quá trình chuyển đổi quan trọng này liên quan đến những thay đổi về mọi mặt như sinh học, xã hội và tâm lý, trong đó những thay đổi về sinh học và tâm lý là rõ rệt thiếu niên là bao nhiêu tuổi? Sự thay đổi ở độ tuổi thanh thiếu thanh thiếu niên là bao nhiêu tuổi? Tuổi dậy thì thường gắn liền với tuổi thiếu niên trong độ tuổi từ 13-19 và bắt đầu phát triển tuổi thiếu niên. Tuy nhiên hiện nay, thời điểm bắt đầu dậy thì đã có một chút thay đổi, đặc biệt là ở các bé gái thường dậy thì sớm hơn. Những thay đổi này gây khó khăn cho việc xác định chính xác khung thời gian của tuổi vị thành trình chuyển đổi trong giai đoạn thanh thiếu niên này liên quan đến những thay đổi về sinh học tuổi vị thành niên xã hội và tâm lý, mặc dù những thay đổi về sinh học và tâm lý là rõ rệt niên có độ tuổi bao nhiêu? Thanh thiếu niên là lực lượng có vai trò quan trọng trong công cuộc xây dựng đất nước và phát triển kinh tế, xã hội. Họ là những người luôn đi đầu trong công cuộc dựng nước và giữ nước. Liên hợp quốc định nghĩa thanh niên là những người nằm trong độ tuổi khoảng từ 15 đến 24 tuổi. Các quốc gia và tổ chức có những quy định khác nhau về độ tuổi của thanh theo điều kiện kinh tế xã hội của mỗi quốc gia và mục đích mà khái niệm thanh niên được xác định mà độ tuổi thanh niên được định nghĩa khác nhau. Ở Việt Nam, theo Điều 1 Luật Thanh niên 2005 thì “Thanh niên là công dân Việt Nam từ 16 đến 30 tuổi”.Đối với độ tuổi người chưa thành niênNgười chưa thành niên là một khái niệm chưa được xác định rõ trong các văn bản pháp luật hiện hành. Tuy nhiên, người chưa thành niên cũng được hiểu là người chưa thành niên và nước này đã quy định rất rõ ràng về khái niệm này trong Bộ luật dân sự 2015. Đặc biệt, Điều 21, có quy định về độ tuổi người chưa thành niên như sau Đối với độ tuổi người chưa thành niên được quy định như sau.– Người chưa thành niên là người có độ tuổi dưới 18 tuổi.– Giao dịch dân sự của người chưa đủ 6 tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó thi hành, thực hiện.– Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 15 tuổi phải được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt của lứa thêm – Người có độ tuổi đủ 15 đến chưa đủ 18 tuổi tự mình chứng minh, xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự là bất động sản phải đăng ký và các giao dịch dân sự khác được xử lý theo quy định. Luật phải được sự chấp thuận của người đại diện theo pháp vậy, có thể hiểu người chưa thành niên hoặc người chưa thành niên là người từ đủ 16 tuổi đến 18 tuổi. Theo Mục 1 Luật Trẻ em 2016 “Trẻ em là người dưới 16 tuổi”. Vì vậy, đứa trẻ và người không có khái niệm là hai khái niệm khác nhau. Nếu trẻ em là người dưới 16 tuổi thì người chưa thành niên là người dưới 18 ra, người chưa thành niên còn được hiểu là người chưa phát triển hoàn thiện về con người cả về thể chất và tinh thần, chưa có giới hạn về độ tuổi được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật. Điều quan trọng là phải xác định xem bạn có phải là trẻ vị thành niên hay không vì đây sẽ là một điều kiện của luật hiện phát triển về mọi mặt ở độ tuổi thanh thiếu niênKhông chỉ giải đáp thanh thiếu niên là bao nhiêu tuổi trong bài viết này chúng tôi còn giúp bạn nhìn nhận sự phát triển ở độ tuổi quan trọng này. Cùng tìm hiểu nhé!Về trí tuệ và hành viKhi bắt đầu bước vào tuổi dậy thì, trẻ bắt đầu phát triển khả năng tư duy trừu tượng và logic. Suy nghĩ ngày càng phức tạp này đã dẫn đến sự gia tăng nhận thức và phản ánh bản thân. Khi thanh thiếu niên trải qua nhiều thay đổi về thể chất đáng chú ý, sự tự nhận thức này thường chuyển thành cảm giác về bản thân và kèm theo cảm giác xấu thanh thiếu niên bắt đầu thời kỳ phát triển và thay đổi tương đối về trí tuệ và hành thiếu niên cũng rất nhạy cảm với ngoại hình, sự hấp dẫn và khác biệt so với các bạn cùng lứa tuổi. Thanh thiếu niên cũng áp dụng khả năng phản xạ mới của họ vào các vấn đề đạo đức. Trẻ em trước tuổi dậy thì giải thích đúng và sai là cố định và tuyệt thiếu niên lớn hơn thường thắc mắc về các tiêu chuẩn ứng xử và có thể phản đối các quy tắc truyền thống – điều này khiến các bậc cha mẹ phải lo lắng. Về mặt lý tưởng, những suy tư này cuối cùng sẽ dẫn đến sự phát triển và cá nhân hóa đạo đức lứa tuổi thiếu cảm xúcTrong thời kỳ thanh thiếu niên, các vùng não kiểm soát cảm xúc phát triển và trưởng thành. Giai đoạn này được đặc trưng bởi sự bộc phát tự phát, có thể là một thách thức đối với cha mẹ và giáo viên, những người thường xuyên trải qua nó. Thanh thiếu niên dần dần học cách kiểm soát những suy nghĩ và hành vi không phù hợp và thay thế chúng bằng những hành vi hướng tới mục tiêu tích bất ổn định về cảm xúc là kết quả trực tiếp của sự phát triển thần kinh trong giai đoạn này với tư cách là phần não kiểm soát sự trưởng thành của cảm xúc. Có thể có xung đột lớn giữa mong muốn có nhiều tự do hơn của trẻ vị thành niên và bản năng mạnh mẽ của cha mẹ trong việc bảo vệ con họ khỏi bị tổn mẹ có thể giúp đỡ con cái bằng cách nói chuyện với chúng về vai trò của chúng và dần dần cho phép con cái được hưởng nhiều đặc quyền hơn, mong chúng có trách nhiệm hơn với bản thân và gia đình. Các bác sĩ tâm lý sẽ giúp đỡ rất nhiều cho trẻ vị thành niên và phụ huynh bằng cách đưa ra các lựa chọn hợp lý, thiết thực, cụ thể và hỗ trợ để tạo điều kiện giao tiếp trong gia phát triển về tâm lýGia đình là trung tâm của đời sống xã hội của trẻ. Trong thời kỳ thanh thiếu niên, các nhóm đồng đẳng bắt đầu coi gia đình là trọng tâm xã hội chính của họ. Những người ngang hàng thường được thiết lập do sự khác biệt về quần áo, ngoại hình, thái độ, sở thích, mối quan tâm và các đặc điểm khác có vẻ sâu sắc hoặc bình thường, thường đối với người điểm tâm lý lứa tuổi thanh thiếu niên là hết sức nhạy thanh thiếu niên nhận thấy mình không có nhóm bạn học thân thiết có thể cảm thấy bị cô lập và khác biệt. Mặc dù những cảm giác này thường không kéo dài nhưng chúng có thể làm tăng khả năng có những hành vi không phù hợp hoặc tiêu cực đối với xã mẹ có thể có tác động tích cực đến con cái của họ bằng cách làm tấm gương, chia sẻ các giá trị với chúng và đặt kỳ vọng cao về việc tránh xa ma túy. Sự can thiệp kịp thời của bác sĩ và chuyên viên y tế vì điều này đã được chứng minh là làm giảm việc sử dụng chất kích thích ở thanh thiếu vấn đề giới tính, tình dụcNgoài việc thích nghi với những thay đổi về thể chất, thanh thiếu niên phải thích nghi với vai trò người lớn và phải tưởng tượng và suy nghĩ trước về sự hấp dẫn giới tính, điều này có thể rất mạnh mẽ và đôi khi đáng số thanh thiếu niên gặp rắc rối với việc xác định giới tính và có thể ngại tiết lộ xu hướng tình dục của mình với bạn bè hoặc gia đình. Thanh thiếu niên đồng tính nam có thể phải đối mặt với những thách thức đặc biệt khi ham muốn tình dục của họ phát quan trọng là giúp trẻ vị thành niên đưa tình dục vào một môi trường lành mạnh bằng cách trả lời trung thực về sinh sản và các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục. Thanh thiếu niên và cha mẹ nên được thoải mái nói chuyện và cởi mở về thái độ của họ đối với giới tính và tình dục, suy nghĩ, quan điểm của cha mẹ vẫn là một yếu tố quan trọng quyết định hành vi của thanh thiếu xác định độ tuổi có ý nghĩa như thế nào?Theo quy định hiện hành ở nước ta, các nhóm tuổi có thể được chia thành các loại sauTrẻ em quy định dưới 16 chưa thành niên quy định từ 16 tuổi đến dưới 18 thiếu niên quy định 18 tuổi trở xác định tuổi của trẻ em, người chưa thành niên hay người đã thành niên là rất quan trọng vì nó ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của cá nhân trong các mối quan hệ pháp luật và dân đã thành niên là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và hoàn toàn chịu trách nhiệm về hành vi của dịch dân sự đối với người dưới 6 tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện. Người từ đủ 6 tuổi đến dưới 15 tuổi phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt của lứa từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi tự mình chứng minh, xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự là bất động sản phải đăng ký và các giao dịch dân sự khác theo quy định của pháp luật, được sự đồng ý của người đại diện theo pháp vọng những thông tin trong bài sẽ giúp bạn đọc xác định được độ tuổi thanh niên nước ta hiện nay cũng như thắc mắc thanh thiếu niên là bao nhiêu tuổi đã được giải đáp. Hẹn gặp lại bạn đọc vào những bài viết bổ ích tiếp theo.
Tháng Mười 16, 2015 Tư vấn tâm lý 11,039 Lượt xem Hướng Nghiệp Học Đường xin được giới thiệu đến quý thầy cô cùng các bậc phụ huynh và các em học sinh Đặc điểm tâm lý lứa tuổi thiếu niên từ 11 – 15 tuổi – Ở lứa tuổi thiếu niên nhận thức có tính chủ định phát triển mạnh. Đặc điểm tri giác có chủ định, phát triển cao khả năng quan sát và đang dần hình thành tính người lớn. Tuy nhiên còn hấp tấp vội vàng, tính tổ chức và tính hệ thống còn kém. Trong học tập giáo viên cần tích cực rèn luyện kĩ năng quan sát cho các em học sinh. – Lứa tuổi thiếu niên có trí nhớ từ ngữ logic phát triển mạnh, áp dụng thao tác tư duy để ghi nhớ chính xác hiệu quả. Tuy nhiên còn nhiều mâu thuẫn và thiếu sót, ghi nhớ máy móc. Ở nhà trường giáo viên cần dạy cho học sinh phương pháp ghi nhớ có ý nghĩa phân đoạn theo ý nghĩa, lập dàn ý, tách ý làm điểm tựa. – Độ tuổi thiếu niên có tư duy phát triển mạnh, có khả năng phân tích, suy luận, tổng hợp, trừu tượng và khái quát hóa phát triển. Trong dạy học cần rèn cho các em thao tác tư duy, phát triển tư duy trừu tượng, kỹ năng suy nghĩ độc lập và có phê phán. – Lứa tuổi thiếu niên có khả năng tưởng tượng và “Thần tượng hóa” khi xây dựng hình mẫu lý tưởng còn xa rời thực tế. – Các em ở lứa tuổi thiếu niên có sức tập trung chú ý cao hơn, lâu hơn và có thể phân tán chú ý nếu không hấp dẫn, điều kiện học tập không tốt phức tạp, có mâu thuẫn đòi hỏi giáo viên cần tổ chức giờ học có nội dung phù hợp gây hứng thú và chủ động cho các em. – Xúc cảm ở lứa tuổi thiếu mang tính ổn định, do nhận thức được nguyên nhân gây nên xúc cảm, nên có thể làm chủ được xúc cảm và bản thân. Xúc cảm xuất hiện trong giao tiếp với bạn bè –thầy cô-cha mẹ -> người lớn tổ chức những hoạt động tích cực -> hình thành đời sống tình cảm đẹp. – Tình cảm ở lứa tuổi thiếu được thể hiện với gia đình, bạn bè, tình yêu, trí tuệ và thẩm mỹ. + Tình cảm gia đình Do nhận thức được vai trò trong gia đình và giao tiếp ngoài xã hội nên các em có ý thức trách nhiệm với gia đình. + Tình cảm bạn bè Có nhu cầu kết bạn để chia sẻ những vấn đề trong học tập, gia đình . . . các em cần tình bạn chân thành, bền vững. + Tình cảm khác giới tình yêu Xuất hiện nhu cầu yêu đương sự phát triển cơ thể + mở rộng giao tiếp + tính người lớn. Tình cảm trí tuệ và thẩm mỹ. – Tình cảm còn biểu hiện sinh lý, nhận thức, hành vi cử chỉ và điệu bộ. Khi giáo dục xúc cảm – tình cảm cho thiếu niên, nhà giáo dục tránh tạo ra những cơn xúc động mạnh ảnh hưởng không tốt đến sức khoẻ của thiếu niên, tôn trọng nhu cầu chính đáng của các em. – Lứa tuổi thiếu niên có cảm giác mình là người lớn, nguyện vọng hòa mình vào tập thể, tìm một chỗ đứng trong lòng tập thể. Tự nhận thức về bản thân mình, nhận thức về sự trưởng thành của bản thân, tìm hiểu phẩm chất và năng lực riêng của bản thân và của người khác. Khả năng đồng nhất với giới tính hình thành những xúc cảm, tình cảm mới, bắt chước người lớn. Có nhu cầu đánh giá bản thân, đánh giá người khác, so sánh mình với người khác cảm nhận mình là người lớn, rung cảm với những hành vi của mình dễ tự kiêu, tự ti hoặc mặc cảm. Hình thành sự tự giáo dục khi chưa hài lòng với mục đích đề ra, tự đề ra mục đích để thực hiện. Đây là thời kì chuyển tiếp từ trẻ con sang người lớn, là thời kì phát triển đầy khó khăn, phức tạp, biến động và khủng hoảng. Nhà giáo dục hướng dẫn, động viên, khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho tự ý thức của các em phát triển để tự giáo dục hỗ trợ đắc lực cho giáo dục nhà trường và gia đình. Liên quan Tương lai với sức khoẻ học đường Cùng tìm hiểu về sức khỏe học đường Sức khoẻ học đường hiện nay đang ...
Ngày đăng 15/03/2013, 0945 Tâm lý lứa tuổi thanh niên TÂM LÍ THANH NIÊN TÂM LÍ TUỔI ĐẦU THANH NIÊN 15, 16 - 18, 19 TUỔI 1. NHỮNG ĐIỀU KIỆN ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÍ 2. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM TÂM LÍ LỨA TUỔI THANH NIÊN ĐIỀU KIỆN VỀ SỰ PHÁT TRIỂN THỂ CHẤT - Là thời kỳ mà sự phát triển thể chất đi vào giai đoạn hoàn chỉnh, hoàn mỹ. - Là giai đoạn trưởng thành về mặt giới tính. HOÀN CẢNH XÃ HỘI - Là một thành viên chính thức của xã hội, một công dân của đất nước + Có nhiệm vụ xã hội pháp luật hình sự, nghĩa vụ quân sự, hôn nhân,…, tổ chức CT - XH,… + Quyền hạn bầu cử, ứng cử,… - Là lực lượng xung kích cách mạng, là nguồn nhân lực quyết định thắng lợi của sự nghiệp CNH - HĐH đất nước. HOẠT ĐỘNG Học tập - Chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, kỹ xảo. - Nghiên cứu khoa học. - Hoạt động học nghề có tính chất trí óc là chính. Lao động - Chọn nghề. - Lao động để nuôi sống bản thân, gia đình,… - Thanh niên là lực lượng lao động trực tiếp ra của cải vật chất để nuôi sống xã hội Hoạt động xã hội - CT - XH nhu cầu đặc trưng + Thanh niên thường nhạy bén, mẫn cảm đối với tình hình KT - CT - XH trong và ngoài nước. + Có chính kiến đối với chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật,… - Tích tích cực tham gia các hoạt động CLB, đội - nhóm. - Những quan hệ giao tiếp với hàng loạt mối quan hệ xã hội đan xen tình bạn, tổ chức CT - XH, CLB,… 2. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM TÂM LÍ LỨA TUỔI THANH NIÊN Nhận thức - Sự nhạy cảm của óc quan sát -> tính dí dỏm, hài hước, tinh nghịch. - Trí nhớ có chủ định, có ý nghĩa chiếm ưu thế. - Khả năng chú ý phát triển tính lựa chọn và tính ổn định. [...]... người khác - Tính tự trọng + Thanh niên thường không xem mình kém hơn những người khác + Thanh niên thường không chịu được sự xúc phạm của người khác đối với mình - Ý thức nghề nghiệp và sự chuẩn bị cho cuộc sống tương lai học đại học, lao động trí óc, nghề dễ kiếm tiền, nghề dễ xin việc,… - Tính tích cực xã hội của thanh niên có những đặc điểm và sắc thái mới + Quan tâm đến tình hình KT – CT - XH... nguy hiểm,… TÓM LẠI - Thanh niên đang đứng trước nhiều sự lựa chọn trong cuộc đời loại hình hoạt động nghề nghiệp; mục đích, lí tưởng sống; lối sống; bạn đời;… + Tổ chức hoạt động cần lưu ý + Phải kích thích khả năng trí tuệ, sáng tạo của thanh niên + Phải mang tính giáo dục, định hướng lí tưởng, sở trường,… + Phải khơi gợi được tính tình nguyện, bầu nhiệt huyết trong thanh niên + Phải đảm bảo tính... khi có giá trị hỗ trợ nhau trong cuộc sống - Tình yêu mối tình đầu, tình yêu, hôn nhân và gia đình + Xuất hiện mối tình đầu thể hiện sự phải lòng dễ tan vỡ, dễ trở thành bi kịch là do sinh lý đã chính muồi; tâm lí, điều kiện, hoàn cảnh chưa hội đủ + Bộc lộ không đều giữa nam và nữ do kế hoạch đường đời và điều kiện giáo dục GĐ - NT - XH + Tình yêu đạt đến hình thái chuẩn mực với những biểu hiện... phong phú, đa đạng và phức tạp + Tình yêu là cơ sở rất quan trọng để tiến đến hôn nhân bền vững, gia đình hạnh phúc tình bạn - tình yêu hôn nhân và gia đình + Biểu hiện thực trạng về tình yêu của thanh niên cần lưu ý tình dự bị; sống thử, thuê; tình qua mạng; tình ban trưa; hướng ngoại;… * Tình cảm trí tuệ say mê nhiều lĩnh vực và có sự phấn đấu không mệt mỏi * Tình cảm thẩm mỹ cái đẹp nội dung . TÂM LÍ THANH NIÊN TÂM LÍ TUỔI ĐẦU THANH NIÊN 15, 16 - 18, 19 TUỔI 1. NHỮNG ĐIỀU KIỆN ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN TÂM LÍ 2. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM TÂM. đan xen tình bạn, tổ chức CT - XH, CLB,… 2. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM TÂM LÍ LỨA TUỔI THANH NIÊN Nhận thức - Sự nhạy cảm của óc quan sát -> tính dí - Xem thêm -Xem thêm Tâm lý lứa tuổi thanh niên, Tâm lý lứa tuổi thanh niên,
Tuổi thanh niên là thời kì từ 14, 15 tuổi đến 25 tuổi. Trong đó chia là 2 giai đoạn – Từ 14, 15 tuổi đến 17,18 tuổi giai đoạn đầu tuổi thanh niên thanh niên học sinh. – Từ 17, 18 tuổi đến 25 tuổi giai đoạn tuổi thanh niên. 1 Hình thành biểu tượng “cái tôi” có tính hệ thống Vị thế xã hội của lứa tuổi thanh niên có nhiều thay đổi so với lứa tuổi trước đó. Một mặt các quan hệ xã hội của thanh niên được mở rộng. Trong các quan hệ đó người lớn, kể cả thầy cô giáo và bố mẹ đều nhìn nhận thanh niên như những người “chuẩn bị thành người lớn và đòi hỏi họ phải có các cách ứng xử phù hợp với vị thế của mình. Mặt khác, khác với học sinh lớp dưới, học sinh cuối cấp II và học sinh cấp III đứng trước một thách thức khách quan của cuộc sống phải chuẩn bị lựa chọn cho mình một hướng đi sau khi tốt nghiệp phổ thông, phải xây dựng cho mình một cuộc sống độc lập trong xã hội… Những thay đổi trong vị thế xã hội, sự thách thức khách quan của cuộc sống dẫn đến làm xuất hiện ở lứa tuổi thanh niên những nhu cầu về hiểu biết thế giới hiểu biết xã hội và các chuẩn mực quan hệ người – người, hiểu mình và tự khẳng định mình trong xã hội… Bước sang tuổi thanh niên, các chức năng tâm lý của con người cũng có nhiều thay đổi, đặc biệt là trong lĩnh vực phát triển trí tuệ, khả năng tư duy. Các nghiên cứu tâm lý học cho thấy rằng hoạt động tư duy của thanh niên rất tích cực và có tính độc lập tư duy lý luận phát triển mạnh. Thanh niên có khả năng và rất ưa thích khái quát các vấn đề. Sự phát triển mạnh của tư duy lý luận liên quan chặt chẽ với khả năng sáng tạo. Nhờ khả năng khái quát thanh niên có thể tự mình phát hiện ra những cái mới. Với họ điều quan trọng là cách thức giải quyết các vấn đề được đặt ra chứ khống phải là loại vấn đề nào được giải quyết. Học sinh cấp III đánh giá các bạn thông minh trong lớp không dựa vào điểm số mà dựa vào cách thức giải bài tập. Họ có xu hướng đánh giá cao các bạn thông minh và những thầy cô có phương pháp giảng dạy tích cực, tôn trọng những suy nghĩ độc lập của học sinh, phê phán sự gò ép, máy móc trong phương pháp sư phạm. Trên cơ sở các điều kiện khách chủ quan nêu trên tự ý thức phát triển. Nghiên cứu khả năng đánh giá con người của thanh niên nhiều nhà tâm lý học nhận thấy rằng khi đánh giá con người nếu như thiếu niên thường nêu lên những đặc điểm mang tính nhất thời liên quan đến những hoàn cảnh cụ thể trong các mối quan hệ với bố mẹ hoặc thầy cô giáo, thì thanh niên chú ý nhiều hơn đến những phẩm chất nhân cách có tính bền vững như các đặc điểm trí tuệ, năng lực, tình cảm, ý chí, thái độ đối với lao động, quan hệ với những người khác trong xã hội… Từ chỗ nhìn nhận được những phẩm chất mang tính khái quát của người khác dần dần con người tự phát hiện ra thế giới nội tâm của bản thân mình. Các em ở lứa tuổi thiếu niên cảm nhận được các rung động của bản thân và hiểu rằng đó là trạng thái “cái tôi” của mình. Song nhờ tư duy khái quát phát triển trên cơ sở tiếp thu các tri thức chung mang tính phương pháp luận thanh niên ý thức được các mối quan hệ giữa các thuộc tính tâm lý và các phẩm chất nhân cách, có khả năng tạo được một hình ảnh “cái tôi” trọn vẹn và đầy đủ hơn để từ đó xây dựng các mối quan hệ với người khác và với chính mình. Biểu tượng về “cái tôi” trong giai đoạn đầu của lứa tuổi thanh niên thường chưa thật rõ nét. Do đó tự đánh giá về bản thân không ổn định và có tính mâu thuẫn. Tôi trong biểu tượng của tôi rất tuyệt vời song thanh niên cũng dễ rơi vào trạng thái nghi ngờ điều đó. Nhu cầu giao tiếp, đặc biệt là giao tiếp với bạn bè đồng lứa phát triển mạnh ở lứa tuổi này đã thực hiện một chức năng quan trọng là giúp thanh niên dần hiểu mình rõ hơn, đánh giá bản thân chính xác hơn thông qua những cuộc trao đổi thông tin, trao đổi các đánh giá về các hiện tượng mà họ quan tâm. Thông thường biểu tượng về cái tôi được hình thành theo hướng các thuộc tính tâm lý của con người như một cá thể được nhận biết sớm hơn các thuộc tính nhân cách. ở giai đoạn đầu thanh niên rất nhạy cảm với những đặc điểm của hình thức thân thể. Họ so sánh mình với người khác qua các đặc điểm bên ngoài. Một hiện tượng rất thường gặp là học sinh cấp III bắt chước thầy cô giáo mà họ yêu quý hay một người mẫu lý tưởng nào đó mà họ chọn cho mình, từ cách ăn mặc, cử chỉ, dáng đi. Trong giai đoạn phát triển tiếp theo các đặc điểm nhân cách như ý chí, tình cảm, trí tuệ, năng lực, mục đích sống… ngày càng có ý nghĩa, tạo nên một hình ảnh “cái tôi” có chiều sâu, có hệ thống, chính xác và sống động hơn. Ý thức về cái tôi rõ ràng và đầy đủ hơn đã làm cho thanh niên có khả năng lựa chọn ,con đường tiếp theo, đặt ra vấn đề tự khẳng định và tìm kiếm vị trí cho riêng mình trong cuộc sống chung. 2 Nảy sinh cảm nhận về “tính chất người lớn” của bản thân. Cảm nhận về “tính người lớn” của chính bản thân mình là một trong những nét tâm lý đặc trưng xuất hiện trong giai đoạn chuyển từ lứa tuổi thiếu niên sang tuổi thanh niên. Thực tiễn cho thấy rằng sự nảy sinh cảm nhận đó ở lứa tuổi thanh niên là một trong những yếu tố tâm lý góp phần tạo nên những mối quan hệ bất bình ổn giữa cha mẹ và con cái, làm cho tần số giao tiếp giữa cha mẹ và con cái giảm xuống và thay vào đó là nhu cầu giao tiếp của thanh niên với bạn đồng lứa tăng lên. Bước sang tuổi thanh niên các em có cảm nhận rõ rệt rằng mình đã lớn hay mình cũng gần giống người lớn, sắp trở thành người lớn. Ranh giới giữa tuổi thanh niên và tuổi người lớn trong con mắt của thanh niên không phải bao giờ cũng hiện lên một cách rõ ràng. Trong quan hệ với trẻ nhỏ tuổi hơn hay trong quan hệ với các bạn đồng lứa thanh niên có xu hướng cố gắng thể hiện mình như những người đã lớn. Họ hướng tới các giá trị của người lớn, so sánh mình với người lớn, mong muốn được tự lập, tự chủ trong giải quyết các vấn đề của riêng họ. Tuy nhiên thực tiễn cuộc sống đã đưa thanh niên vào một hoàn cảnh đầy mâu thuẫn. So sánh mình với người lớn, học sinh cấp III hiểu rằng mình vẫn còn nhỏ, còn phụ thuộc. Nếu như lứa tuổi trước đó sẵn sàng chấp nhận quan hệ người lớn – trẻ con, thì đối với thanh niên tính chất như vậy trong quan hệ giữa họ với người lớn được họ coi như là không bình thường. Thanh niên cố gắng khắc phục kiểu quan hệ đó. Xuất hiện một mâu thuẫn giữa ý muốn chủ quan và hiện thực khách quan muốn trở thành người lớn song thanh niên ý thức được rằng mình chưa đủ khả năng. Mâu thuẫn này đã tạo ra những thay đổi lớn trong lĩnh vực tình cảm của lứa tuổi thanh niên. Những nghiên cứu về tính cách thanh niên bằng các trắc nghiệm TAT và Rorschach cho thấy rằng tính hay lo lắng đã tăng từ độ tuổi 12 đến độ tuổi 16. So với các lứa tuổi trước đó mức độ lo lắng trong giao tiếp với mọi người với bạn bè, thầy cô giáo, người lớn… ở lứa tuổi thanh niên cao hơn hẳn và đặc biệt cao trong giao tiếp với bố mẹ hay với những người lớn mà thanh niên cảm thấy bị phụ thuộc. Theo thói quen thông thường trong quan hệ với con cái đã bước vào tuổi thanh niên, các bậc cha mẹ vẫn thường xem họ như những đứa trẻ mà ít chú ý đến nhu cầu nội tâm của họ. Kiểu quan hệ mang tính sai khiến, áp đặt cứng nhắc hoặc những biểu hiện tình cảm mẹ – con thái quá đối với lứa tuổi này thường gây ra những hậu quả không mong đợi. – một chuyên gia tâm thán học nổi tiếng của Liên bang Nga về lứa tuổi thanh niên nhận định rằng từ 14 đến 18 là lứa tuổi khủng hoảng đối với tâm thần học. Ở lứa tuổi này các biểu hiện rối loạn nhân cách tăng lên rõ rệt và trong phần lớn các trường hợp, chúng có nguồn gốc sâu xa trong các quan hệ cha mẹ – con cái, quan hệ thầy – trò không thuận lợi.
tâm lý lứa tuổi thanh thiếu niên