Từ điển Trần Văn Chánh. ① Học, học tập: 學 文 化 Học văn hoá; 幼 不 學 , 老 何 爲 ?. Nhỏ mà không học thì đến lúc già còn làm gì được? (Tam tự kinh); ② Noi theo, phỏng theo, bắt chước: 學 雞 叫 Bắt chước gà gáy; ③ Học thức: 博 學 多 能 Học rộng tài cao; ④
1. Chiết tự chữ Hán bằng thơ. 2. Chiết tự chữ Hán qua bộ thủ. Tài liệu học chiết tự chữ Hán pdf. Chiết tự chữ Hán là một cách để hiểu ý nghĩa sâu sa từ đó nhớ chữ Hán lâu hơn. Tuy rằng không phải chữ Hán nào cũng có thể chiết tự. Nhưng đây là cách hữu hiệu
Ngôn ngữ văn học chữ Hán thời này đã góp phần của mình để thúc đẩy cho thể luận của văn tiếng Việt tiến lên. Điều này thể hiện ở nhiều phương diện, chẳng hạn như Hán văn thời kỳ này là nguồn cung cấp từ vựng cho tiếng Việt. Những từ ngữ, thuật ngữ mới
Duy có ba cái văn thể đặc biệt trong chữ Hán mà của người Việt Nam chúng tôi sáng tạo ra đây, nếu đem cho nhà văn học Tàu phúng tụng thì ắt sẽ thấy có cái mỹ cảm khác thường lắm, cũng như họ ở bên Bắc Kinh Thượng Hải mà đi ăn cơm tây: nấu thì theo kiểu tây mà những thịt, cá, rau, cải thì thuần là đồ thổ sản của Tàu!
Không học chữ Hán thì ko đọc được văn bản tiếng Trung. 5. Học tiếng Trung dễ hay khó? Rất dễ vì hệ thống phiên âm phát âm và ghép gần giống tiếng Việt. Chúng ta chỉ cần hiểu nghĩa của từ Hán Việt là ghép ra được từ mới.
Ecv8. Cách học chữ Hán nhanh nhất hay cách nhớ chữ Hán là vấn đề được quan tâm nhiều nhất đối với các bạn mới bắt đầu học tiếng Trung Quốc. Trung tâm tiếng Trung Chinese xin đưa ra 7 phương pháp học nhớ chữ Hán để các bạn tham khảo và thực hành. viết chữ Hán mỗi ngày và chỉ cần nhớ từ cơ bản và quan trọng Không cần thiết để biết hết 50,000 từ tiếng Trung để có thể đọc và viết tiếng Trung vì ngay cả người Trung Quốc cũng không biết được hết. Chỉ 1500 từ có thể khám phá 95% ngôn ngữ viết của mọi loại ngôn ngữ. Rất nhiều từ trùng lặp trong tiếng Trung 100 từ có thể tạo được 70% của MỌI ngôn ngữ viết Với 500 từ thông dụng, bạn sẽ có tỷ lệ là 80%+ Nếu bạn muốn đọc và viết tiếng Trung nhanh, đừng phí thời gian học những chữ cái hiếm gặp vì bạn chẳng bao giờ dùng mà hãy tập trung vào những từ thông dụng nhất Tạo flashcard – thẻ nhớ từ là cách tập nhớ chữ Hán rất hiệu quả Hãy chọn ra 1500 từ Trung Quốc hữu dụng nhất và in ra thành 1 poster. Hãy xử lý để poster có độ phân giải cao nhất để khi in ra các chữ không bị mờ Mỗi từ nên bao gồm phần chữ Hán Phồn thể hoặc giản thể tuỳ việc bạn học tiếng Đài Loan hay tiếng Phổ thông, phần dịch tiếng Việt hoặc tiếng Anh cho các bạn muốn ôn luyện cả tiếng Anh và phần Pinyin 2. Ghi nhớ 214 bộ thủ cơ bản và Quy tắc viết chữ Hán Chữ Trung Quốc là chữ tượng hình được chia làm hai loại là chữ đơn thể 人,口,女,手,… và chữ hợp thể 你,难,笑,男,…. Chữ hợp thể chiếm đa số trong tiếng Trung, thường có kết cấu trái – phải, trên – dưới, ngoài – trong, một phần biểu nghĩa, một phần biểu âm đọc. Từ đó chỉ cần nhìn chữ chúng ta sẽ có thể đoán được nghĩa và cách đọc của từ. Ở đây chúng ta cũng cần tìm hiểu bộ thủ là gì? Và học bộ thủ thì có lợi ích gì? ⇒Xem chi tiết Cách học 214 bộ thủ “Bộ thủ là thành phần cốt yếu của chữ Trung Quốc. Trong tiếng Trung có tất cả 214 bộ thủ, phần lớn những bộ thủ này không thể phân tách ra nữa nếu không chúng sẽ trở nên vô nghĩa, Vì vậy muốn học tốt chữ Trung Quốc chúng ta nên học thuộc các bộ thủ.. Học thuộc các bộ thủ mang lại cho chúng ta rất nhiều lợi ích. Khi chúng ta không biết cách đọc một từ chúng ta có thể dựa vào bộ thủ để tra nghĩa cũng như cách đọc của từ ấy. Như đã nói ở trên chữ hợp thể chiếm hần lớn. trong tiếng Trung vì vậy có những chữ được ghép từ hai hoặc nhiều bộ thủ lại với nhau, Vì vậy học thuộc bộ thủ cũng là một cách để ghi nhớ chữ Trung Quốc. 3. Học bằng phương pháp Chiết tự Chiết tự chữ Hánchẻ chữ, phân tích chữ là một cách nhớ chữ Trung Quốc nhanh và hiệu quả. Một số ví dụ về chiết tự dưới đây Ví dụ 1 – Chữ 安 Ān An An toàn. Ở trên là bộ MIÊN 宀’ mái nhà, mái che. Ở dưới là bộ NỮ 女’ người phụ nữ. Vậy bạn chỉ cần nhớ là Người phụ nữ ở dưới trong nhà thì rất “AN” toàn. Ví dụ 2 – Chữ 男 Nán Nam nam giới Ở trên là bộ 田’ Điền ruộng Ở dưới là bộ 力’ Lực sức mạnh Vậy bạn chỉ cần nhớ là Người dùng lực nâng được cả ruộng lên vai là người đàn ông, nam giới. Ví dụ 3 – Chữ “休“ nghĩa là nghỉ ngơi Chữ này được ghép từ chữ “人” người và chữ “木” gốc cây. Có nghĩa là khi người ta làm việc mệt nhọc thì ngồi nghỉ tại gốc cây. Đoán nghĩa của chữ dựa vào bộ thủ Khi biết bộ thủ chúng ta có thể đoán được phần nào nghĩa của từ. Những từ có bộ “水” thì thường liên quan đến nước, sông, hồ,…, bộ “心、忄” thường liên quan đến tình cảm, cảm xúc,… → Xem chi tiết Chiết tự chữ Hán 4. Học từ mới qua Phim ảnh, Tiểu thuyết tiếng Trung Nghe nhưng bài hát yêu thích của mình bằng tiếng Trung có phụ đề phiên âm. Nghe nhiều sẽ nhớ được chữ Hán lâu hơn Thay vì xem phim phụ đề hoặc thuyết minh, đọc bản dịch sẵn của truyện, tại sao các bạn không tự thử thách khả năng tiếng Trung của mình bằng việc xem phim đọc truyện thuần tiếng Trung? Việc gắn liền niềm yêu thích phim ảnh, tiểu thuyết với việc học ngoại ngữ sẽ tạo cho bạn một động lực to lớn để học từ mới. Hiện nay các phim tiếng Trung đều có phụ đề chữ Hán. Vậy khi xem phim bạn hãy nhanh tay note những từ mới lại và học chúng. ⇒Xem chuyên mục Học tiếng Trung qua bài hát Trong tổng số chữ Trung Quốc có những chữ mô phỏng theo hình dáng của sự vật, là những hình vẽ, kiểu phác thảo những vật có thể thấy bằng mắt như Mặt trăng, mặt trời, con ngựa,…tính chất tượng hình của chữ Trung Quốc nằm ở chữ độc thể, cũng là các bộ chữ, tạo trực quan sinh động cho người học. Vd “月” Mặt trăng; “日” Mặt trời; “水” Nước,… Chữ hội ý và chữ chỉ sự là loại chữ thể hiện lối tư duy trí tuệ của người xưa Vd “木” có nghĩa là cây, 2 chữ “木”sẽ tạo thành chữ “林”. Chữ “好”nghĩa là tốt được ghép từ chữ “女”và chữ“子”, ý chỉ người phụ nữ sinh được con trai là việc tốt. 6. Học qua ca dao, tục ngữ, câu đố Đây là cách nhớ chữ Hán độc đáo của người Việt xưa. Khi đi học chữ Hán, mấy người không nhắc cho nhau câu Chim chích mà đậu cành tre Thập trên tứ dưới nhất đè chữ tâm. Chiết tự chữ đức 德 Đó là một trong những mẹo nhớ chữ Hán của người xưa thường được gọi là chiết tự. 7. Phương pháp phân biệt chữ gần giống nhau Chữ Hán có rất nhiều chữ có cách viết tương tự nhau hoặc gần giống nhau. Nếu không để ý và phân biệt rõ ràng sẽ rất dễ nhầm lẫn. Ví dụ như nhóm chữ 我 找 钱; 土 士; 未 末; 爪瓜; 贝见; 墫威 戒 戎 戌 戍 戊. Trong giai đoạn mới tiếp xúc với chữ Hán, các bạn sẽ cảm thấy những chữ này rất giống nhau nên thường xuyên viết nhầm. Bạn hãy để liệt kê những chữ giống nhau này và xem kỹ xem chúng có những điểm gì khác nhau, nghĩa của từng chữ là gì để phân biệt chúng. Chỉ cần lưu tâm một chút là có thể dễ dàng nhận ra sự khác nhau giữa chúng. Trên đây là 7 cách nhớ chữ Hán cơ bản phần nào sẽ giúp được việc học tiếng Trung đơn giản hơn. Chúc các bạn học tốt tiếng Trung. Cám ơn các bạn đã ghé thăm website của chúng tôi Nguồn Bản quyền thuộc về Trung tâm tiếng Trung Chinese Vui lòng không copy khi chưa được sự đồng ý của tác giả
Phải làm thế nào để chinh phục được chữ Hán? Nên bắt đầu từ đâu? Trong nội dung bài viết dưới đây, Nhớ Hán Tự sẽ giúp bạn chạy đua với kiến thức bằng 10 cách học chữ Hán hiệu quả nhất. Tiếng Trung Quốc hay Hán ngữ là một trong những ngôn ngữ thông dụng và phổ biến nhất. Việc thông thạo Hán ngữ ngày càng trở nên quan trọng và là nhu cầu thiết yếu cho việc phát triển bản thân trong thời đại hội nhập. Vậy phải làm thế nào để chinh phục được chữ Hán? Nên bắt đầu từ đâu? Trong bài viết này, Nhớ Hán Tự sẽ giúp bạn chạy đua với kiến thức bằng 9 cách học chữ Hán nhanh, hiệu quả nhất. Chia sẻ cách học chữ Hán nhanh, dễ nhớ 1. Tập viết mỗi ngày và ghi nhớ những từ cơ bản Thực tế, bạn không cần phải biết hết tất cả hơn từ vựng tiếng Trung để đọc và viết. Vì ngay cả người bản địa cũng không thể làm điều này. Do đó, hãy trang bị cho mình khoảng 1500 từ là đủ để khám phá 90% Hán ngữ, và vận dụng chúng trong giao tiếp. Chọn lọc một số từ thông dụng nhất hoặc thuộc vào chuyên môn mà bạn muốn tiếp cận. Từ đó, qua thời gian làm việc và trò chuyện thường xuyên với người bản xứ, bạn sẽ dần có thêm kiến thức thông qua 1500 từ ban đầu. Để dễ dàng ghi nhớ từ vựng hơn, bạn có thể sử dụng phương pháp “BFF”. Nói đơn giản, tức là tạo một Flashcard và thiết kế nó thành dụng cụ móc khóa. Một mặt ghi tiếng Trung và phiên âm, phần còn lại là tiếng Việt. Bằng cách này, dù là đi đâu, làm gì, bạn cũng có thể mang kiến thức theo và dễ dàng học tập, ghi nhớ hơn. 2. Ghi nhớ bộ thủ và quy tắc viết chữ Hán cơ bản Chữ Hán được chia thành hai loại bao gồm chữ đơn thể và chữ hợp thể. Trong đó, chữ hợp thể chiếm 90% ngôn ngữ Trung Hoa. Chúng có một phần biểu nghĩa và biểu âm theo quy tắc trái trước – phải sau, trên trước – dưới sau, ngoài trước – trong sau. Vì thế, bạn chỉ cần nắm bắt một vài quy ước trong Hán ngữ là có thể đoán ra ý nghĩa và cách đọc chữ. Hãy thuộc lòng bộ thủ và quy tắc viết chữ Hán cơ bản 214 bộ thủ, chính là thành phần cốt yếu, là chìa khóa trong bầu trời Hán ngữ. Vì thế, để học tốt tiếng Trung, bạn cần thuộc lòng mặt chữ và ý nghĩa của bộ thủ. Đa số, các từ trong bộ đều là hợp thế, nên có những chữ ghép từ hai hoặc đôi bộ. Do đó, học thuộc là phương pháp dễ dàng nhất để ghi nhớ và xây dựng thành cụm câu. 3. Phương pháp chiết tự chữ Hán Chiết tự là cách chẻ chữ để phân tích nghĩa của từng từ. Nói cách khác, vì hầu hết Hán ngữ đều được xây dựng bằng các chữ tượng hình kết hợp, nên việc chiết tự tách chữ nhằm giúp người học hiểu được nhiều ký tự trong cùng một từ. Ở chữ Trung luôn có sự kết hợp nổi bật của ba mặt Hình – Âm – Nghĩa. Chiết tự trong Hán ngữ đã phát huy tất cả những đặc điểm trong cấu trúc ba mặt để tạo nên nét độc đáo so với các hệ thống văn tự khác. Trung ngữ không chỉ chiết về mặt hình chữ mà còn liên hệ với phương diện âm và nghĩa. Chiết tự chữ Hán Trong khía cạnh hình thể, chiết tự dựa trên nguyên tắc phân chữ Hán ra các bộ phận cấu thành của từ. Về mặt âm, tách chữ sử dụng các tri thức mang tính ngữ âm như nói lái, phiên thiết. Đối với ngữ nghĩa, chiết tự dựa vào bản chất biểu ý của Hán ngữ. Chiết tự nảy sinh và hình thành trên cơ sở nhận thức về hình thể của chữ Trung, cách ghép, bố trí các bộ, phần của Hán tự. Nhìn nhận trên phương diện mới, chiết tự chính là sự vận dụng, phân tích chữ Trung một cách linh hoạt và sáng tạo hơn. Ví dụ Chữ Nam 男 là sự kết hợp giữa bộ 田 điền và phía dưới là bộ 力 lực. Tức bộ Điền là thửa ruộng, bộ Lực mang hình dáng người đàn ông đang dùng sức để làm việc. Ý nghĩa chỉ người đàn ông thời xưa ra đồng làm việc sẽ phải dùng sức lực. Chính nhờ nét riêng, độc đáo này, chiết tự chữ Hán trở nên đa dạng về hình thức kiểu dáng, phong phú về nghệ thuật ngôn từ. Hơn thế, Hán ngữ không chỉ dừng lại ở hình thức phân tích mặt chữ thuần túy, mà còn chuyển sang phương pháp địa hạt văn chương và các trò chơi thử tài trí tuệ thú vị, hấp dẫn. 4. Học qua tục ngữ, ca dao, câu đố Ngày xưa, khi ông bà ta tiếp cận với chữ Hán, thường sẽ học thông qua ca dao, tục ngữ, câu đố. Phương pháp này nhằm giúp cho người học dễ dàng liên tưởng đến chữ Hán trong bất kỳ trường hợp nào. Hơn nữa, bạn có thể chiết tự để mở rộng ý nghĩa và học được nhiều từ vựng hơn. Ví dụ Chim chích mà đậu cành tre/ Thập trên tứ dưới nhất đè chữ tâm Chiết tự chữ đức 德 5. Nhớ chữ Hội ý và chữ Tượng hình Trong Hán học, có những chữ sẽ được mô phỏng theo hình dáng của các sự vật, hiện tượng. Tính chất tượng hình của Hán ngữ nằm ở chữ độc thể, tạo nên sự trực quan, sinh động cho người học. Ví dụ Bộ khẩu 口 tức ám chỉ cái miệng mở to, bộ nhân 人 giống con người Mộc nghĩa là cái cây Chữ Hội ý là chỉ sự thể hiện được lối tư duy trí tuệ của người xưa trong việc sáng tạo ngôn ngữ Hán. Việc học bằng phương pháp này giúp chúng ta dễ hình dung các sự vật hiện tượng và liên tưởng cách gần gũi hơn. Ví dụ Chữ rừng có nhiều cây 林, kết hợp từ hai chữ mộc 木. 6. Phân biệt những chữ có cách viết gần giống nhau Trong Hán ngữ, khá nhiều chữ có cách viết tương đối giống nhau. Nếu không để ý, khi sai một chấm, một phẩy sẽ dẫn đến lệch lạc về mặt ý nghĩa. Ví dụ 我 找 钱, 爪瓜, 戒 戎 戌 戍 戊, 贝见. Vì vậy, hãy thử liệt kê những từ thông dụng có mặt chữ giống nhau và xem kỹ điểm khác biệt để không bị nhầm lẫn. Bên cạnh đó, bạn có thể tìm hiểu điều gì tạo nên sự khác nhau về mặt ý nghĩa. Điều này nhằm giúp ghi nhớ và hiểu biết thêm về văn hóa xứ Trung Hoa. 7. Học qua tiểu thuyết, phim ảnh, bài hát Một trong những cách học tiếng Trung thú vị, không áp lực và rất giải trí là xem các bộ phim, đọc tiểu thuyết hoặc nghe những bản nhạc. Ban đầu, bạn sẽ cảm giác hơi khó chịu vì không thể hiểu được ý nghĩa trong từng câu chữ. Đừng lo, khi còn là “gà mờ”, bạn hãy thoải mái mở phụ đề và ghi nhớ bản dịch. Sau đó, bỏ dần và cố gắng hình dung lại ý nghĩa. Ngoài ra, hãy thử tập làm theo cảm xúc giống các diễn viên để tăng khả năng âm điệu trong giao tiếp và trông giống người bản xứ hơn nhé! Học Hán ngữ từ việc nghe nhạc, xem phim hay đọc tiểu thuyết cũng là một cách rất hay 8. Học qua các trang mạng xã hội Đối với những người lớn đã đi làm, việc bỏ thời gian để đến lớp học thật sự không dễ dàng. Thay vào đó, bạn hãy luyện tập Hán ngữ tại nhà bằng cách theo dõi các trang chia sẻ về tiếng Trung của người Việt. Mỗi khi lướt web, bắt gặp một số bài viết chữ Hán, hãy cố gắng ghi nhớ và lẩm nhẩm nhiều lần. Phương pháp này nhằm giúp bạn linh hoạt và học tập thêm các chữ Hán ngay trong lúc đang vui chơi, giải trí. 9. Học qua những người bạn bản xứ Trong thời đại công nghệ không khó để tìm được những người bạn Trung Quốc. Đừng ngại đăng ký một tài khoản wechat hoặc weibo, nơi kết nối mọi người trên toàn Thế giới để trao đổi, trò chuyện. Điều này không những giúp bạn học hỏi nhiều về kỹ năng giao tiếp mà còn hỗ trợ trong quá trình tiếp nhận văn hóa xứ Trung Hoa. Ông bà ta ngày trước đã có câu “Có công mài sắt, có ngày nên kim”. Vì thế, khi bạn tiếp cận ngôn ngữ mới, chắc chắn sẽ gặp một vài khó khăn và đôi lúc nản lòng. Tuy nhiên, chỉ cần bạn đủ mạnh mẽ, can đảm vượt qua và áp dụng 9 cách học chữ Hán hiệu quả trên. Nhớ Hán Tự chắc chắn bạn sẽ thành công và trở thành một “thánh giao tiếp”. Tìm hiểu thêm Chiết tự chữ Hán - Phương pháp ghi nhớ chữ Hán siêu nhanh, dễ dàng Mách bạn 7 cách nhớ chữ Hán thật dễ dàng, nhớ lâu hiệu quả 100 chữ Hán cơ bản thông dụng nên học nhất Cách học tiếng Trung nhanh và hiệu quả cho người mới bắt đầu
Ngoài văn hoá dân gian truyền miệng còn có dòng văn học chữ viết, lúc đầu là chữ Hán, sau chữ Nôm rồi đến chữ Quốc ngữ như ngày nay. Dòng văn học này trải qua nhiều thời kì. Những văn bản sớm nhất hiện tìm thấy có từ thế kỉ thứ X, tạm chia làm hai giai đoạn Từ thế kỉ thứ X đến thế kỉ XIX Từ đầu thế kỉ XX đến này. Bạn đang xem Các tác phẩm văn học chữ hán Từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX Trong giai đoạn này, văn học thành văn được viết bằng hai thứ chữ chữ Hán và chữ Nôm. Mặc dù trải qua một nghìn năm Bắc thuộc, người Việt Nam không bị đồng hoá mà dần dần hình thành bản sắc dân tộc riêng biệt. Chữ Nôm xuất hiện từ rất sớm nhưng từ thế kỉ XVI trở đi văn học chữ Nôm mới thịnh hành và đến thế kỉ XVIII thì văn học chữ Nôm chiếm một vị trí rất lớn. Sự phát triển về ý thức dân tộc đã tạo điều kiện cho văn học chữ Nôm ngày càng phát triển. Văn học chữ viết hình thành và phát triển Trong nhiều thế kỉ, văn học chữ Hán chiếm vị trí chủ yếu trừ một vài trường hợp như triều Hồ Quý Ly và Quang Trung coi trọng chữ Nôm, tuy sử dụng chữ Hán nhưng các tác phẩm văn học ấy vẫn thấm đượm tính cách và tâm hồn Việt Nam như bài thơ Nam quốc sơn hà của Lí Thường Kiệt, Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo, những bài thơ ca ngợi chiến thắng của quân dân nhà Trần của Phạm Ngũ. Lão, Trần Quang Khải, Phạm Sư Mạnh, Cáo Bình Ngô của Nguyễn Trãi, vv. Tiếp đến là những bộ sử dược viết với một ý thức dân tộc mạnh mẽ Đại Việt sử kí toàn thư của Ngô Sĩ Liên, Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia Văn Phái, w. Thế kỉ XV, văn học chữ Hán vẫn chiếm ưu thế. Tuy vậy văn học chữ Nôm vẫn không ngừng phát triển. Nguyễn Trãi là người nêu cao tiếng Việt và vận dụng chữ Nôm vào sáng tác văn học. Tập thơ Quốc Âm thi tập của Nguyễn Trãi trong thời kì này là một trong những tập thơ Nôm xưa nhất có giá trị đến ngày nay. Từ thế kỉ XVI đến thế kỉ XIX, văn học chữ Nôm phát triển rực rỡ chiếm ưu thế hoàn toàn trên văn đàn. Những nhà thơ lớn đã khai thác triệt để ngôn ngữ của dân tộc, nhiều tác phẩm tiêu biểu ra đời Thơ Nôm của Hồ Xuân Hương, Truyện Kiều của Nguyễn Du, Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm, Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, w, Từ đầu thế kỉ XX đến nay. Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, các tác phẩm văn học bằng chữ Quổe ngữ dần dần xuất hiện. Nền văn học Việt Nam hiện nay không chỉ tiếp thu và chịu ảnh hưởng của nền văn học Trung Quốc mà còn tiếp thu cả nền văn học phương Tây đặc biệt là văn học Pháp, đã đưa nền văn học Việt Nam phong phú hơn và đa dạng hơn về thể loại. Văn học Việt Nam dần dần đã tách khỏi phong cách cổ điển với những điển tích nặng nề, linh hoạt hơn, chính xác hơn và gần với ngôn ngữ hàng ngày hơn. Năm 1925, những cuốn tiểu thuyết đầu tiên của Việt Nam ra đời Tố Tàm của Hoàng Ngọc Phách, Quả dưa đỏ của Nguyễn Trọng Thuật. Phong trào thơ mới được coi là “một cuộc cách mạng” trong thơ ca, những quy tắc gò bó, lối diễn đạt ước lệ, công thức bị phá bỏ, cảm xúc được diễn tả tự nhiên, cởi mở hơn, lãng mạn hơn. Trong phong trào thơ mới xuất hiện nhiều nhà thơ tài năng Lưu Trọng Lư, Thế Lữ, Vũ Đình Liên, Xuân Diệu, Huy Cận, Tản Đà, w. Về Văn học lãng mạn nổi lên có nhóm Tự lực văn đoàn được thành lập năm 1932 gồm Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam và một số nhà văn trẻ, w. Dòng văn học này tuy có nhiều tiến bộ trong sáng tác nhưng không tránh khỏi những hạn chế về mặt tư tưởng. Bên cạnh trào lưu văn học lãng mạn phải kể đến dòng Văn học hiện thực phê phán. Các sáng tác của trào lưu văn học này có tính chân thực cao và thăm đượm tinh thần nhẫn dạo. Trào lưu này đã cho ra dời những tác phẩrn thật sự xuất sắc cả về nội dung và hình thức như Bước dường cùng của Nguyễn Công Hoan, Tắt đèn của Ngô Tẩt Tố, Vỡ đê, Giông tố của Vũ Trọng Phụng, Bi vò của Nguyễn Hồng, Chí Phèo của Nam Cao, w. Cùng với hai trào lưu trên còn có trào lưu Văn học cách mạng nhưng không được lưu hành hợp pháp tuy có lúc được lưu hành hợp pháp. Trào lưu văn học này gồm những thơ văn của các chiến sĩ cách mạng ở trong tù và những tác phẩm được xuất bản trên báo chí nước ngoài. Những tác giả tiêu biểu cho trào lưu này là Hồ Chí Minh, Sóng Hồng, Tố Hữu, Xuân Thuỷ, vv. Cuộc cách mạng tháng Tám thành công, nền Văn học hiện đại được phát triển mạnh mẽ. Những tác phẩm ra đời trong thời kì này như những mốc son đánh dấu từng giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc. Các tác phẩm Con trâu của Nguyễn Văn Bổng, Vùng mỏ của Võ Huy Tầm, Xung Kích của Nguyễn Đình Thi, Tuỳ bút của Nguyễn Tuân, w. là thành quả của nền văn học trong những năm kháng chiến chống Pháp. Cuộc kháng chiến chống Mĩ kéo dài 21 năm, nhiều tác phấm văn học nổi tiếng đã ra đời, phản ánh cuộc đấu tranh vô cùng anh dũng của đồng bào và chiến sĩ cả nước như Hòn đất của Anh Đức, Gia đình má Bẩy, Mẫn và tôi của Phan Tứ, Trên đất Quảng, Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi. Và các tác phẩm thơ Quê hương của Giang Nam, Dáng dứng Việt Nam của Lê Anh Xuân, Bài ca Chim Chơ-rao của Thu Bồn, Gió Lào cát trắng của Xuân Quỳnh, w. Hiện nay các nhà văn, nhà thơ đang có gắng đưa văn học Việt Nam sang một giai đoạn mới, góp phần xây dựng một nước Việt Nam đi lên trong hoà bình và ổn định. Tôi là Nguyễn Văn Sỹ có 15 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực thiết kế, thi công đồ nội thất; với niềm đam mê và yêu nghề tôi đã tạo ra những thiết kếtuyệt vời trong phòng khách, phòng bếp, phòng ngủ, sân vườn… Ngoài ra với khả năng nghiên cứu, tìm tòi học hỏi các kiến thức đời sống xã hội và sự kiện, tôi đã đưa ra những kiến thức bổ ích tại website Hy vọng những kiến thức mà tôi chia sẻ này sẽ giúp ích cho bạn!
Giới thiệu sách Toàn Thư Tự Học Chữ HánNội dung cuốn “Toàn thư tự học chữ Hán” dành cho người tự học chữ Hán từ nhập môn đến nâng cao Nhập môn Gồm 126 bài học ngắn đi từ dễ đến khó, mỗi bài đều có phiên âm, dịch nghĩa, giải thích từ mới và ngữ pháp. Nâng cao Gồm 102 bài được tuyển chọn, được viết bằng hình thức phối hợp giữa Văn ngôn và Bạch thoại về cả hai phương diện từ ngữ lẫn ngữ pháp. Đặc biệt mỗi bài đều có giới thiệu tác giả, tác phẩm nhằm cung cấp kiến thức đa dạng, bao quát nhiều lĩnh vực văn, triết, sử... giúp người học hiểu tiến trình phát triển văn hóa Trung Quốc một cách tổng quan. Phần thư pháp chuẩn xác và kinh điển cả về lý thuyết lẫn thực hành. Phương pháp biên soạn giúp người học có thể đọc, dịch, và viết chữ Hán một cách thông thạo. Với quyển Toàn Thư Tự Học Chữ Hán này bạn sẽ học được cổ văn Hán tự một cách nền tảng Phương thức cấu tạo và sự phát triển của chữ Hán qua các thời kỳ, giúp bạn hiểu được khái quát Hán tự là gì. Các bản văn kinh điển giúp bạn đọc hiểu, nắm vững từ vựng và nâng cao ngữ pháp. Phương pháp luyện tập thư pháp, giúp ôn luyện một cách sáng tạo, đầy cảm hứng. Sách Toàn Thư Tự Học Chữ Hán của tác giả Trần Văn Chánh, Lê Anh Minh, có bán tại Nhà sách online NetaBooks với ưu đãi Bao sách miễn phí và Gian hàng NetaBooks tại Tiki với ưu đãi Bao sách miễn phí và tặng Bookmark Xem thêm ĐÁNH GIÁ CỦA ĐỘC GIẢ Hãy đánh giá Toàn Thư Tự Học Chữ Hán để giúp những độc giả khác lựa chọn được cuốn sách phù hợp nhất! Toàn Thư Tự Học Chữ Hán Giá bán tại NetaBooks ₫ ₫ Tiết kiệm ₫-20%
VHSG- Rất nhiều bạn trẻ đang nhầm tưởng việc học chữ Hán là học tiếng Trung Quốc, nên cứ nghe đến các lớp chữ Hán mở ra là dè bỉu. Song nếu ai đó bảo họ phân tích sự khác biệt giữa những chữ viết trên câu đối chùa chiền, với văn bản hiện tại ở Bắc Kinh, thì họ không làm được. Tại sao? 1. Một cách đơn giản, mọi người cần hiểu, ngôn ngữ nào cũng có lịch sử phát triển, và tiếng Trung Quốc cũng thế. Người Trung Quốc nhiều đời trước thống nhất dùng văn tự chữ Hán phồn thể để viết và dùng ngữ pháp chữ Hán để hiểu. Lối hành văn ấy thường gọi là văn chương bát cổ, sử dụng ở các triều đại phong kiến. Đến nay, Chính phủ Trung Quốc thống nhất dùng chữ viết tiết giản các nét giản thể và ngữ pháp vùng Bắc Kinh cho đất nước này, từ đó trở thành tiếng phổ thông Trung Hoa Trung văn hay còn gọi là tiếng Quan thoại, tiếng Bắc Kinh. Áng văn Nôm Truyện Kiều bản Chiêm Vân Thị dưới tựa “Thúy Kiều Truyện tường chú”. Với người Việt Nam, chữ Hán được du nhập cùng bước chân xâm lược và chế độ đô hộ của Trung Quốc trước đây. Giới nghiên cứu cho rằng chữ Hán được vận dụng chính từ thời Hán, với âm đọc của thời đó, lưu giữ cho đến nay. Chữ Hán, được người Việt dùng, nhưng với âm đọc Hán – Việt, tức là phát âm theo tiếng của người Việt Nam. Trải qua nhiều triều đại, cùng với lối văn chương bát cổ được sử dụng, từ vựng chữ Hán đã dần trở thành “vốn từ” đa số trong ngôn ngữ Việt Nam. Những chữ Hán này, tức các từ Hán – Việt, đọc lên hoàn toàn bằng âm Việt, người Trung Quốc nghe không hiểu. Nghĩa dùng, ngữ pháp chữ Hán – Việt cũng tuân thủ theo văn chương cũ ở các triều đại phong kiến, nên người Trung Quốc hiện đại cũng không thể hiểu được. Thậm chí qua thời gian, chữ Hán còn được người Việt biến cải, sử dụng với nhiều nghĩa khác, từ đó tạo ra nhiều chữ Hán “thuần Việt”, không còn chữ Hán nguyên thủy. Sự khác biệt này, nếu so sánh với tiếng phổ thông Trung Quốc hiện nay, sẽ rất rõ nét. Ví dụ, người Trung Quốc dùng chữ “chúng cư” 眾 居 theo nghĩa nơi ở tập trung nhiều người, nhưng người Việt đổi âm là “chung cư”. Người Trung Quốc dùng chữ “khốn nạn” 困 難 để chỉ sự khó khăn, còn người Việt lại trỏ vào một đặc tính hành xử của con người. Người Trung Quốc dùng chữ sinh sản 生 產 với nghĩa “sản xuất”, còn người Việt lại dùng chữ sinh sản để chỉ vào việc sinh nở của phụ nữ. Đại gia 大 家, với tiếng Trung Quốc hiện đại, nghĩa là mọi người, nhưng người Việt lại dùng nghĩa “người giàu có tiền bạc”. Hơn nữa, trong lịch sử ngôn ngữ, người Việt còn sử dụng chữ Hán để ký âm đọc tiếng Việt, từ đó tạo nên những từ tiếng Việt thuần túy nhưng viết bằng chữ Hán, gọi là chữ Nôm. Lối chữ này, hoàn toàn không phải là chữ Hán của người Trung Quốc nữa, và đã từng được người Việt sử dụng như là một thứ chữ viết riêng cho tiếng Việt. Do đó, chữ Hán – Việt chính là nền tảng quan trọng để ký âm chữ Nôm cho người Việt, và trong lịch sử phát triển của ngôn ngữ Việt Nam, chữ Hán là thành phần không thể thiếu được khi người Việt muốn nắm rõ, giảng nghĩa các từ dùng của mình. Nền văn hóa, văn học Việt Nam, ngôn ngữ cha ông chúng ta vì thế không tách rời với chữ Hán và chữ Nôm, cần phải được bảo tồn, nắm bắt đúng nguyên nghĩa giá trị và tinh thần trong đó. Bốn trang đầu của sách “Tự Đức thánh chế tự học giải nghĩa ca” dùng chữ Nôm để học chữ Nho. 2. Học chữ Hán, với người Việt hiện nay, chính là một thách thức không đơn giản, khi cả dân tộc đã hơn 100 năm chuyển đổi qua hệ ký âm Latinh tiếng Việt, sử dụng chữ Quốc ngữ trong mọi hoạt động văn hóa và giao tiếp. Chữ viết hiện nay của người Việt hoàn toàn không còn dấu vết gì của chữ Hán, chữ Nôm. Có điều, thực chất nghĩa ẩn chứa bên trong từ tiếng Việt, lại là nghĩa của từ Hán – Việt. Do đó, để hiểu đúng hiểu đủ bản sắc phong phú, độc đáo của ngôn ngữ tiếng Việt, chúng ta không thể bỏ qua “kênh dịch nghĩa” là từ Hán – Việt. Thậm chí, khi bỏ nghĩa Hán – Việt, nhiều từ tiếng Việt sẽ bị đứt gãy nghĩa, trở nên tối nghĩa và sai lệch. Khối lượng từ tiếng Việt của chúng ta sẽ giảm đi rất nhiều và méo mó một cách thảm hại. Ví dụ, với câu nói “đêm qua, đại ca Hùng đã dùng ca sắt đánh vào đầu ca sĩ Hồng”, rất nhiều người hiện nay không thể phân biệt đúng và đầy đủ nghĩa của 3 từ “ca” được sử dụng. Nếu không nắm vững được các từ Hán – Việt với nghĩa dùng ở đây, cùng các từ tiếng Việt, chữ Nôm tương ứng, chắc chắn người Việt Nam không thể giảng rõ được từ dùng của mình. Đây là lý do để gần đây, một trào lưu “học chữ Hán” khá sôi nổi đa dạng được khuấy động ở các đô thị lớn như Hà Nội, Chí Minh, được nhiều bạn trẻ quan tâm theo học. Tuy nhiên, do không hiểu được bản chất sự việc, nhiều bạn trẻ đang cổ súy bài xích hoạt động đó, cho rằng các bạn học chữ Hán là học tiếng Trung Quốc, dẫn đến những ngộ nhận sai lầm khi ứng xử. Thậm chí ngay ở một số nhà sách, nhà xuất bản, một số từ điển, tự điển chữ Hán cũng bị hiểu nhầm là từ điển, tự điển tiếng Trung, và ngược lại. Có rất nhiều từ điển tiếng Trung Quốc hiện đại, khi được dịch qua tiếng Việt, đã ghi thành từ điển Hán – Việt, rất là sai lệch. Học và hiểu ngôn ngữ là cả một vấn đề lớn, không đơn giản, nhất là khi các ngôn ngữ ấy đã có một lịch sử giao thoa cả ngàn năm. Cho nên, nhận chân vấn đề, hiểu đúng bản thể sự việc là rất quan trọng. Học chữ Hán, vì thế rất mong các bạn trẻ và cộng đồng đừng nhầm lẫn cho là học tiếng phổ thông Trung Quốc. THỤY BẤT NHI BÁO QUẢNG NAM Xem thêm Thơ 1-2-3 Huỳnh Thanh Liêm Biết để tin và không biết để… tin! Truyện ngắn Trần Thế Tuyển Dòng sông cuộn chảy Thơ 1-2-3 Hà Phi Phượng Có những lặng thầm tàng ẩn lắng sâu Truyện ngắn Nguyễn Hương Duyên Trong khu vườn lá rụng Thơ 123 Vương Thanh Lan Trang giáo án dày thêm những khoang tàu sương gió
văn học chữ hán